Bài viết nổi bật
-
Anh xin thề không tán tỉnh em đâu Dẫu em đẹp và vô cùng khả ái Đẹp như thể làm lòng anh tê tái Muốn nhìn hoài mà chẳng dám nhìn lâu ...
-
Các trang web này đều đã được cộng đồng Reddit/Beermoney với hơn 160,000 thành viên thảo luận và lựa chọn kỹ càng. Làm thêm là một các...
-
Hà cho rằng với con gái, ngoại hình không phải là tất cả nhưng nó lại rất quan trọng. Vậy nên nếu làm đẹp để mình tự tin hơn thì các cô gái...
Tâm trạng hôm nay
rảnh
Tin tức quan tâm
Nghe tin gửi ngân hàng lấy lãi cũng là 1 hình thức kinh doanh, phải chấp nhận rủi ro, ngân hàng mà yếu kém phá sản thì có gửi tiền tỷ hay tiền trăm cũng chỉ đc max 75 triệu giải an ủi thôi :)) Lo quá BIDV mình vẫn còn 50k phí duy trì thẻ không rút được!
Cho anh em về bờ
34
Giới thiệu về Blog
Được viết vào một chiều rảnh rỗi ngẫu hứng, mình nghĩ rằng đã luyện gõ 10 ngón thì làm luôn 1 cái blog mà đăng tải văn thơ yêu thích vào cho nó thích thú :)
Blog Archive
- tháng 11 2017 (10)
- tháng 10 2017 (3)
Tìm kiếm Blog này
Giới thiệu về tôi
Thứ Bảy, 4 tháng 11, 2017
Lịch sử phát triển của nền điện ảnh Nhật Bản từng chứng kiến không ít tác phẩm sáng chói, phản ánh những suy nghĩ và góc nhìn tinh tế của các đạo diễn đối với bối cảnh xã hội ở từng thời kì.
Tokyo Story (1953)
Đạo diễn: Yasujiro Ozu
Không chỉ được xem là tác phẩm xuất sắc nhất của nhà làm phim bậc thầy Yasujirou Ozu, Tokyo Story còn được đánh giá là kiệt tác của điện ảnh thế giới. Bộ phim kể về câu chuyện của một cặp vợ chồng già ở tuổi gần đất xa trời lên thủ đô Tokyo, Nhật Bản, để thăm hai đứa con thành đạt. Người con trai cả làm bác sĩ, người con gái chủ một tiệm làm tóc. Cả hai đều đã lập gia đình và có cuộc sống khá ổn định. Nhưng đôi vợ chồng già hụt hẫng khi các con tiếp đón cha mẹ một cách nhạt nhẽo và tính toán. Người duy nhất ở Tokyo đối xử chân thành và tình cảm với hai ông bà, lại là cô con dâu, vợ của người con trai thứ đã qua đời.
Tokyo Story không hề có xung đột, không có kẻ xấu… chỉ có những người tốt làm cho nhau đau đớn. Bộ phim khiến khán giả phải “dán mắt” vào màn hình bởi chuyện phim giống như một lát cắt trần trụi của cuộc đời. Sự vĩ đại của Tokyo Story nằm ở tính giản dị nhưng vẫn mang ý nghĩa rất sâu sắc, vượt qua mọi không gian và thời gian. Nó gần gũi đến mức tưởng như chúng ta vừa mới nghe thấy ở đâu đó hay là câu chuyện đã hoặc đang xảy ra trong gia đình mình.
Bộ phim được rất nhiều nhà phê bình điện ảnh đánh giá cao và luôn lọt top các bảng xếp hạng điện ảnh uy tín của thế giới. Trong cuộc bầu chọn của tạp chí Sight and Sound, Tokyo Story đã ba lần được bình chọn trong danh sách 10 bộ phim hay nhất mọi thời đại (xếp thứ 3 năm 1992, xếp thứ 5 năm 2002, xếp thứ 3 năm 2012). Tạp chí Time cũng tôn vinh Tokyo Story vào danh sách 100 phim hay nhất mọi thời đại (All-TIME 100 Movies). Năm 2015 tại LHP Busan lần thứ 20, Tokyo Story đã được bình chọn là bộ phim châu Á hay nhất mọi thời đại. Tokyo Story cũng là một trong những phim châu Á hiếm hoi nhiều lần được Viện phim ảnh Anh đưa vào các chương trình giảng dạy của họ.
Rashomon (1950)
Đạo diễn: Akira Kurosawa
Giải thưởng: Giải Oscar cho Phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc nhất năm 1951, Giải Sư tử vàng tại LHP Venice năm 1951
Tác phẩm được coi là một trong những bộ phim xuất sắc nhất của Kurosawa cũng như là một trong những kiệt tác của điện ảnh thế giới. Bộ phim dựa trên 2 truyện ngắn của nhà văn Akugatawa là Rashomon và In a Grove. Vợ của một samurai bị tên cướp Tajomaru hãm hiếp còn chàng samurai bị giết chết bởi một thanh gươm đâm vào ngực. Vụ án này được kể lại qua 4 góc nhìn khác nhau: Tên cướp Tajomaru, thiếu phụ bị cưỡng bức Masago, samurai bị giết nhập hồn vào thầy đồng và một tiều phu vô danh. Mỗi lời khai cung cấp một phiên bản khác nhau về sự việc, đưa khán giả vào một mê cung phức tạp không biết đâu mới là sự thật.
Sau khi ra đời, Rashomon đã giành được hai giải thưởng điện ảnh quốc tế lớn là giải Sư tử vàng tại Liên hoan phim Venice và giải Oscar cho Phim ngoại ngữ hay nhất tại lễ trao giải Oscar năm 1951, giúp Kurosawa trở thành đạo diễn châu Á đầu tiên dành chiến thắng ở hai giải thưởng này. Đây là một trong những bộ phim Nhật Bản đầu tiên được biết tới rộng rãi ở tầm quốc tế và nó cũng đưa Kurosawa Akira lên vị trí một trong những đạo diễn hàng đầu của thế giới.
Bộ phim xếp thứ 2 trong top 100 phim châu Á hay nhất mọi thời đại, xếp thứ 22 trong danh sách "The 100 Best Films Of World Cinema" do tạp chí Empire của Anh bình chọn. Tương tự một số tác phẩm khác của Kurosawa, Rashōmon đã được Hollywood làm lại với bối cảnh Viễn Tây, đó là bộ phim The Outrage với sự tham gia của Paul Newman, Claire Bloom và Edward G. Robinson.
Seven Samurai (1954)
Đạo diễn: Akira Kurosawa
Giải thưởng: Giải Sư tử vàng tại LHP Venice năm 1955, Giải BAFTA cho Phim ngoại ngữ xuất sắc nhất năm 1955
Seven Samurai là biểu tượng kinh điển của điện ảnh châu Á, trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều bộ phim anh hùng - võ thuật sau này của phương Tây. Bộ phim lấy bối cảnh tại một ngôi làng ở Nhật Bản vào thế kỉ 16, kể về nhóm bảy võ sĩ đạo dũng cảm bảo vệ dân làng đói khổ trước bọn cướp hung tợn.
Với tuổi đời 60 năm, tuy mang nội dung không mới về tinh thần nghĩa hiệp của các võ sĩ, Seven Samurai vẫn hấp dẫn khán giả toàn thế giới với phong cách làm phim độc đáo, chân thực. Phim tạo cảm hứng cho nhiều tác phẩm điện ảnh phương Tây, trong đó không thể không kể đến bộ phim viễn Tây kinh điển Magnificent Seven ra mắt vào năm 1960. Seven Samurai đã đoạt nhiều giải thưởng, trong đó có giải Sư tử vàng tại Liên hoan phim Venice năm 1955, và giải Phim ngoại ngữ xuất sắc nhất do Viện Hàn lâm Điện ảnh Anh quốc (BAFTA) trao tặng cùng năm. Bộ phim xếp thứ nhất trong số 100 Phim điện ảnh xuất sắc nhất mọi thời đại do tạp chí Empire bình chọn.
Gate of Hell (1953)
Đạo diễn: Teinosuke Kinugasa
Giải thưởng: Giải Oscar cho Phim ngoại ngữ xuất sắc nhất năm 1954, Giải Grand Prix tại LHP Cannes năm 1954, Giải thưởng của hội phê bình phim New York cho Phim nước ngoài xuất sắc nhất năm 1954
Bộ phim năm 1953 của đạo diễn Teinosuke Kinugasa là câu chuyện kể về một samurai muốn kết hôn với một người phụ nữ mà anh ta đã giải cứu, để rồi nhận ra rằng cô ta đã có chồng. Sử dụng kĩ thuật Eastmancolor, tác phẩm thuộc thể loại jidai-geki (thời đại kịch) này là phim màu đầu tiên của hãng phim Daiei Film và là phim màu đầu tiên của Nhật Bản được trình chiếu tại nước ngoài.
Năm 1954, Gate of Hell tham dự LHP Quốc tế Cannes và được Chủ tịch ban giám khảo Jean Cocteau khen ngợi là "đỉnh cao của cái đẹp". Sau khi giành giải Grand Prix (Giải thưởng lớn) tại LHP Cannes, bộ phim được trao giải thưởng Oscar danh dự cho Phim nước ngoài xuất sắc nhất và giải Oscar cho Phục trang đẹp nhất vào năm 1955.
Yojimbo (1961)
Đạo diễn: Akira Kurosawa
Giải thưởng: Giải Sư tử vàng tại LHP Venice năm 1962
Sự xuất hiện của Yojimbo không chỉ thổi luồng gió mới vào nền điện ảnh Nhật Bản mà còn gây ảnh hưởng tới phong cách làm phim của các nước phương Tây, điển hình là phim A Fistful of Dollars ra đời một năm sau đó của tài tử Clint Eastwood. Yojimbo xếp ở vị trí 95 trong danh sách 500 phim hay nhất mọi thời đại của tạp chí Empire.
Phim là câu chuyện về một võ sĩ lang bạt khắp giang hồ có tấm lòng cao thượng, đã quyết đánh cược mạng sống của mình để giảng hòa hai băng đảng giang hồ, tránh gây đổ máu cho người dân vô tội.
Woman in the Dunes (1964)
Đạo diễn: Hiroshi Teshigahara
Giải thưởng: Giải Cành cọ vàng tại LHP Cannes năm 1964
Là một trong những bộ phim tiên phong về trào lưu làm phim mang phong cách siêu thực ở Nhật, Woman in the Dunes được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết cùng tên của biên kịch Kobo Abe. Qua hình ảnh ngôi nhà giữa cồn cát trắng mênh mông hay các biểu tượng đậm tính triết học hiện sinh khi nhân vật chính Jumpei đào cát quanh nhà hay cố leo lên những cồn cát cao để thoát khỏi “Cô gái cát”, phim phần nào đã giải đáp nhiều câu hỏi về ý nghĩa cuộc đời và triết lý nhân sinh. Bộ phim đã đoạt giải Cành cọ vàng tại LHP Cannes 1964 và đề cử giải Oscar cho Phim nước ngoài hay nhất và đạo diễn xuất sắc nhất cùng năm.
Departures (2008)
Đạo diễn: Yôjirô Takita
Giải thưởng: Giải Oscar cho Phim ngoại ngữ xuất sắc nhất năm 2008
Là bộ phim Nhật Bản thứ tư nhận được giải Oscar cho hạng mục Phim nước ngoài xuất sắc nhất, Departures xoáy sâu vào đề tài chết chóc thông qua nghề trang điểm tử thi của gia đình nhân vật chính, nhưng lại không khiến khán giả thấy ghê sợ. Với những triết lý Phật giáo về cõi sinh cõi tử được lồng ghép tinh tế, phim như một bản nhạc nhẹ nhàng, sâu lắng lặng lẽ thấm sâu vào lòng người.
Battle Royale (2000)
Đạo diễn: Kinji Fukasaku
Battle Royale được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Koushun Takami đã gây ra một tiếng vang lớn thời bấy giờ, tạo ra nhiều làn sóng tranh cãi trái chiều bởi tính bạo lực của nó.
Phim lấy bối cảnh trong tương lai gần, nhằm chấn chỉnh tình trạng đạo đức của xã hội, mỗi năm chính phủ chọn ngẫu nhiên một nhóm các học sinh lớp 9 và đẩy ra hoang đảo. Tại đây trong vòng 3 ngày, các học sinh này phải giết lẫn nhau, người cuối cùng sống sót sẽ là người chiến thắng. Các cảnh hành động cùng lời thoại của phim tuy không quá xuất sắc nhưng đủ khiến người xem hãi hùng khi chứng kiến những gương mặt thiếu niên búng ra sữa cầm dao giết hại bạn bè mình.
Nobody Knows (2004)
Đạo diễn: Hirokazu Koreeda
Giải thưởng: Giải Cành cọ vàng tại LHP Cannes năm 2004
Nobody Knows dựa trên câu chuyện hoàn toàn có thật về 4 đứa trẻ bị chính mẹ ruột của mình bỏ rơi trong một căn hộ tại Nhật năm 1988, phải gồng mình chống lại cơn đói khát trong nhiều ngày. Sự kiện này đã làm chấn động dư luận trong và ngoài nước Nhật, người mẹ nhẫn tâm cũng bị tuyên án 3 năm tù giam. Diễn xuất tuyệt vời của Yuya Yagira - 14 tuổi trong vai người anh cả Akira đã mang về cho anh giải nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại LHP Cannes 2004, giúp anh đi vào lịch sử khi trở thành nam diễn viên trẻ nhất từng chiến thắng giải thưởng này.
The Taste of Tea (2005)
Đạo diễn: Katsuhito Ishii
The Taste of Tea kể về gia đình Haruno gồm 3 thế hệ với 5 thành viên sống cùng nhau tại một miền quê Nhật Bản, mỗi thành viên lại có những cá tính và suy nghĩ khác nhau, bổ trợ nhau thành một “bức tranh đa sắc” hoàn chỉnh.
The Taste of Tea có nội dung nhẹ nhàng, giản dị và đề cao tình thân gia đình, đặc biệt là có nhiều cảnh quay được ngộ nghĩnh hóa theo phong cách truyện tranh Nhật Bản. Riêng chi tiết này rất được đánh giá cao tại các LHP ở Pháp, Mỹ, Hawaii...
Like Father Like Son (2013)
Đạo diễn: Hirokazu Koreeda
Giải thưởng: Giải Jury Prize tại LHP Cannes năm 2013
Ryota (Masaharu Fukuyama) là một kiến trúc sư thành đạt làm việc tại Tokyo, có người vợ Midori và cậu con trai Keita 6 tuổi là nguồn động lực để anh làm việc không biết mệt mỏi. Trong một lần xét nghiệm máu, Ryota phát hiện Keita không phải là con mình, con ruột của anh hiện đang được gia đình khác nuôi dưỡng, điều này khiến cả 2 gia đình lâm vào tình thế vô cùng khó xử.
Lấy đề tài về tình phụ tử thiêng liêng nhưng Like Father, Like Son lại có cách tiếp cận hoàn toàn mới mẻ thông qua những bài học trên hành trình tìm lại chính mình của ông bố. Phim thích hợp với những ai đang là cha mẹ, cũng như những người sẽ trở thành cha mẹ trong tương lai cùng xem và suy ngẫm.
Tokyo Sonata (2008)
Đạo diễn: Kiyoshi Kurosawa
Giải thưởng: Giải Jury Prize tại LHP Cannes năm 2008
Tokyo Sonata là tác phẩm điện ảnh giành giải Prix Un Certain Regard tại LHP Cannes 2008. Một gia đình trung lưu ở thành phố Tokyo, bỗng đứng trước nguy cơ tan vỡ khi người chồng Ryuhei Sasaki, lao động chính trong gia đình, mất việc. Vì lòng tự trọng, Ryuhei quyết định giấu kín chuyện này, mỗi sáng lại giả vờ ăn vận chỉnh tề tới công ty. Phim có nội dung tiếp cận một cách trực diện đến tàn nhẫn cuộc sống của một gia đình Nhật điển hình ở thế kỉ 21, bị bủa vây dưới áp lực khủng hoảng kinh tế và các lề thói đạo đức hà khắc.
Tokyo Story (1953)
Đạo diễn: Yasujiro Ozu
Không chỉ được xem là tác phẩm xuất sắc nhất của nhà làm phim bậc thầy Yasujirou Ozu, Tokyo Story còn được đánh giá là kiệt tác của điện ảnh thế giới. Bộ phim kể về câu chuyện của một cặp vợ chồng già ở tuổi gần đất xa trời lên thủ đô Tokyo, Nhật Bản, để thăm hai đứa con thành đạt. Người con trai cả làm bác sĩ, người con gái chủ một tiệm làm tóc. Cả hai đều đã lập gia đình và có cuộc sống khá ổn định. Nhưng đôi vợ chồng già hụt hẫng khi các con tiếp đón cha mẹ một cách nhạt nhẽo và tính toán. Người duy nhất ở Tokyo đối xử chân thành và tình cảm với hai ông bà, lại là cô con dâu, vợ của người con trai thứ đã qua đời.
Tokyo Story không hề có xung đột, không có kẻ xấu… chỉ có những người tốt làm cho nhau đau đớn. Bộ phim khiến khán giả phải “dán mắt” vào màn hình bởi chuyện phim giống như một lát cắt trần trụi của cuộc đời. Sự vĩ đại của Tokyo Story nằm ở tính giản dị nhưng vẫn mang ý nghĩa rất sâu sắc, vượt qua mọi không gian và thời gian. Nó gần gũi đến mức tưởng như chúng ta vừa mới nghe thấy ở đâu đó hay là câu chuyện đã hoặc đang xảy ra trong gia đình mình.
Bộ phim được rất nhiều nhà phê bình điện ảnh đánh giá cao và luôn lọt top các bảng xếp hạng điện ảnh uy tín của thế giới. Trong cuộc bầu chọn của tạp chí Sight and Sound, Tokyo Story đã ba lần được bình chọn trong danh sách 10 bộ phim hay nhất mọi thời đại (xếp thứ 3 năm 1992, xếp thứ 5 năm 2002, xếp thứ 3 năm 2012). Tạp chí Time cũng tôn vinh Tokyo Story vào danh sách 100 phim hay nhất mọi thời đại (All-TIME 100 Movies). Năm 2015 tại LHP Busan lần thứ 20, Tokyo Story đã được bình chọn là bộ phim châu Á hay nhất mọi thời đại. Tokyo Story cũng là một trong những phim châu Á hiếm hoi nhiều lần được Viện phim ảnh Anh đưa vào các chương trình giảng dạy của họ.
Rashomon (1950)
Đạo diễn: Akira Kurosawa
Giải thưởng: Giải Oscar cho Phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc nhất năm 1951, Giải Sư tử vàng tại LHP Venice năm 1951
Tác phẩm được coi là một trong những bộ phim xuất sắc nhất của Kurosawa cũng như là một trong những kiệt tác của điện ảnh thế giới. Bộ phim dựa trên 2 truyện ngắn của nhà văn Akugatawa là Rashomon và In a Grove. Vợ của một samurai bị tên cướp Tajomaru hãm hiếp còn chàng samurai bị giết chết bởi một thanh gươm đâm vào ngực. Vụ án này được kể lại qua 4 góc nhìn khác nhau: Tên cướp Tajomaru, thiếu phụ bị cưỡng bức Masago, samurai bị giết nhập hồn vào thầy đồng và một tiều phu vô danh. Mỗi lời khai cung cấp một phiên bản khác nhau về sự việc, đưa khán giả vào một mê cung phức tạp không biết đâu mới là sự thật.
Sau khi ra đời, Rashomon đã giành được hai giải thưởng điện ảnh quốc tế lớn là giải Sư tử vàng tại Liên hoan phim Venice và giải Oscar cho Phim ngoại ngữ hay nhất tại lễ trao giải Oscar năm 1951, giúp Kurosawa trở thành đạo diễn châu Á đầu tiên dành chiến thắng ở hai giải thưởng này. Đây là một trong những bộ phim Nhật Bản đầu tiên được biết tới rộng rãi ở tầm quốc tế và nó cũng đưa Kurosawa Akira lên vị trí một trong những đạo diễn hàng đầu của thế giới.
Bộ phim xếp thứ 2 trong top 100 phim châu Á hay nhất mọi thời đại, xếp thứ 22 trong danh sách "The 100 Best Films Of World Cinema" do tạp chí Empire của Anh bình chọn. Tương tự một số tác phẩm khác của Kurosawa, Rashōmon đã được Hollywood làm lại với bối cảnh Viễn Tây, đó là bộ phim The Outrage với sự tham gia của Paul Newman, Claire Bloom và Edward G. Robinson.
Seven Samurai (1954)
Đạo diễn: Akira Kurosawa
Giải thưởng: Giải Sư tử vàng tại LHP Venice năm 1955, Giải BAFTA cho Phim ngoại ngữ xuất sắc nhất năm 1955
Seven Samurai là biểu tượng kinh điển của điện ảnh châu Á, trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều bộ phim anh hùng - võ thuật sau này của phương Tây. Bộ phim lấy bối cảnh tại một ngôi làng ở Nhật Bản vào thế kỉ 16, kể về nhóm bảy võ sĩ đạo dũng cảm bảo vệ dân làng đói khổ trước bọn cướp hung tợn.
Với tuổi đời 60 năm, tuy mang nội dung không mới về tinh thần nghĩa hiệp của các võ sĩ, Seven Samurai vẫn hấp dẫn khán giả toàn thế giới với phong cách làm phim độc đáo, chân thực. Phim tạo cảm hứng cho nhiều tác phẩm điện ảnh phương Tây, trong đó không thể không kể đến bộ phim viễn Tây kinh điển Magnificent Seven ra mắt vào năm 1960. Seven Samurai đã đoạt nhiều giải thưởng, trong đó có giải Sư tử vàng tại Liên hoan phim Venice năm 1955, và giải Phim ngoại ngữ xuất sắc nhất do Viện Hàn lâm Điện ảnh Anh quốc (BAFTA) trao tặng cùng năm. Bộ phim xếp thứ nhất trong số 100 Phim điện ảnh xuất sắc nhất mọi thời đại do tạp chí Empire bình chọn.
Gate of Hell (1953)
Đạo diễn: Teinosuke Kinugasa
Giải thưởng: Giải Oscar cho Phim ngoại ngữ xuất sắc nhất năm 1954, Giải Grand Prix tại LHP Cannes năm 1954, Giải thưởng của hội phê bình phim New York cho Phim nước ngoài xuất sắc nhất năm 1954
Bộ phim năm 1953 của đạo diễn Teinosuke Kinugasa là câu chuyện kể về một samurai muốn kết hôn với một người phụ nữ mà anh ta đã giải cứu, để rồi nhận ra rằng cô ta đã có chồng. Sử dụng kĩ thuật Eastmancolor, tác phẩm thuộc thể loại jidai-geki (thời đại kịch) này là phim màu đầu tiên của hãng phim Daiei Film và là phim màu đầu tiên của Nhật Bản được trình chiếu tại nước ngoài.
Năm 1954, Gate of Hell tham dự LHP Quốc tế Cannes và được Chủ tịch ban giám khảo Jean Cocteau khen ngợi là "đỉnh cao của cái đẹp". Sau khi giành giải Grand Prix (Giải thưởng lớn) tại LHP Cannes, bộ phim được trao giải thưởng Oscar danh dự cho Phim nước ngoài xuất sắc nhất và giải Oscar cho Phục trang đẹp nhất vào năm 1955.
Yojimbo (1961)
Đạo diễn: Akira Kurosawa
Giải thưởng: Giải Sư tử vàng tại LHP Venice năm 1962
Sự xuất hiện của Yojimbo không chỉ thổi luồng gió mới vào nền điện ảnh Nhật Bản mà còn gây ảnh hưởng tới phong cách làm phim của các nước phương Tây, điển hình là phim A Fistful of Dollars ra đời một năm sau đó của tài tử Clint Eastwood. Yojimbo xếp ở vị trí 95 trong danh sách 500 phim hay nhất mọi thời đại của tạp chí Empire.
Phim là câu chuyện về một võ sĩ lang bạt khắp giang hồ có tấm lòng cao thượng, đã quyết đánh cược mạng sống của mình để giảng hòa hai băng đảng giang hồ, tránh gây đổ máu cho người dân vô tội.
Woman in the Dunes (1964)
Đạo diễn: Hiroshi Teshigahara
Giải thưởng: Giải Cành cọ vàng tại LHP Cannes năm 1964
Là một trong những bộ phim tiên phong về trào lưu làm phim mang phong cách siêu thực ở Nhật, Woman in the Dunes được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết cùng tên của biên kịch Kobo Abe. Qua hình ảnh ngôi nhà giữa cồn cát trắng mênh mông hay các biểu tượng đậm tính triết học hiện sinh khi nhân vật chính Jumpei đào cát quanh nhà hay cố leo lên những cồn cát cao để thoát khỏi “Cô gái cát”, phim phần nào đã giải đáp nhiều câu hỏi về ý nghĩa cuộc đời và triết lý nhân sinh. Bộ phim đã đoạt giải Cành cọ vàng tại LHP Cannes 1964 và đề cử giải Oscar cho Phim nước ngoài hay nhất và đạo diễn xuất sắc nhất cùng năm.
Departures (2008)
Đạo diễn: Yôjirô Takita
Giải thưởng: Giải Oscar cho Phim ngoại ngữ xuất sắc nhất năm 2008
Là bộ phim Nhật Bản thứ tư nhận được giải Oscar cho hạng mục Phim nước ngoài xuất sắc nhất, Departures xoáy sâu vào đề tài chết chóc thông qua nghề trang điểm tử thi của gia đình nhân vật chính, nhưng lại không khiến khán giả thấy ghê sợ. Với những triết lý Phật giáo về cõi sinh cõi tử được lồng ghép tinh tế, phim như một bản nhạc nhẹ nhàng, sâu lắng lặng lẽ thấm sâu vào lòng người.
Battle Royale (2000)
Đạo diễn: Kinji Fukasaku
Battle Royale được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Koushun Takami đã gây ra một tiếng vang lớn thời bấy giờ, tạo ra nhiều làn sóng tranh cãi trái chiều bởi tính bạo lực của nó.
Phim lấy bối cảnh trong tương lai gần, nhằm chấn chỉnh tình trạng đạo đức của xã hội, mỗi năm chính phủ chọn ngẫu nhiên một nhóm các học sinh lớp 9 và đẩy ra hoang đảo. Tại đây trong vòng 3 ngày, các học sinh này phải giết lẫn nhau, người cuối cùng sống sót sẽ là người chiến thắng. Các cảnh hành động cùng lời thoại của phim tuy không quá xuất sắc nhưng đủ khiến người xem hãi hùng khi chứng kiến những gương mặt thiếu niên búng ra sữa cầm dao giết hại bạn bè mình.
Nobody Knows (2004)
Đạo diễn: Hirokazu Koreeda
Giải thưởng: Giải Cành cọ vàng tại LHP Cannes năm 2004
Nobody Knows dựa trên câu chuyện hoàn toàn có thật về 4 đứa trẻ bị chính mẹ ruột của mình bỏ rơi trong một căn hộ tại Nhật năm 1988, phải gồng mình chống lại cơn đói khát trong nhiều ngày. Sự kiện này đã làm chấn động dư luận trong và ngoài nước Nhật, người mẹ nhẫn tâm cũng bị tuyên án 3 năm tù giam. Diễn xuất tuyệt vời của Yuya Yagira - 14 tuổi trong vai người anh cả Akira đã mang về cho anh giải nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại LHP Cannes 2004, giúp anh đi vào lịch sử khi trở thành nam diễn viên trẻ nhất từng chiến thắng giải thưởng này.
The Taste of Tea (2005)
Đạo diễn: Katsuhito Ishii
The Taste of Tea kể về gia đình Haruno gồm 3 thế hệ với 5 thành viên sống cùng nhau tại một miền quê Nhật Bản, mỗi thành viên lại có những cá tính và suy nghĩ khác nhau, bổ trợ nhau thành một “bức tranh đa sắc” hoàn chỉnh.
The Taste of Tea có nội dung nhẹ nhàng, giản dị và đề cao tình thân gia đình, đặc biệt là có nhiều cảnh quay được ngộ nghĩnh hóa theo phong cách truyện tranh Nhật Bản. Riêng chi tiết này rất được đánh giá cao tại các LHP ở Pháp, Mỹ, Hawaii...
Like Father Like Son (2013)
Đạo diễn: Hirokazu Koreeda
Giải thưởng: Giải Jury Prize tại LHP Cannes năm 2013
Ryota (Masaharu Fukuyama) là một kiến trúc sư thành đạt làm việc tại Tokyo, có người vợ Midori và cậu con trai Keita 6 tuổi là nguồn động lực để anh làm việc không biết mệt mỏi. Trong một lần xét nghiệm máu, Ryota phát hiện Keita không phải là con mình, con ruột của anh hiện đang được gia đình khác nuôi dưỡng, điều này khiến cả 2 gia đình lâm vào tình thế vô cùng khó xử.
Lấy đề tài về tình phụ tử thiêng liêng nhưng Like Father, Like Son lại có cách tiếp cận hoàn toàn mới mẻ thông qua những bài học trên hành trình tìm lại chính mình của ông bố. Phim thích hợp với những ai đang là cha mẹ, cũng như những người sẽ trở thành cha mẹ trong tương lai cùng xem và suy ngẫm.
Tokyo Sonata (2008)
Đạo diễn: Kiyoshi Kurosawa
Giải thưởng: Giải Jury Prize tại LHP Cannes năm 2008
Tokyo Sonata là tác phẩm điện ảnh giành giải Prix Un Certain Regard tại LHP Cannes 2008. Một gia đình trung lưu ở thành phố Tokyo, bỗng đứng trước nguy cơ tan vỡ khi người chồng Ryuhei Sasaki, lao động chính trong gia đình, mất việc. Vì lòng tự trọng, Ryuhei quyết định giấu kín chuyện này, mỗi sáng lại giả vờ ăn vận chỉnh tề tới công ty. Phim có nội dung tiếp cận một cách trực diện đến tàn nhẫn cuộc sống của một gia đình Nhật điển hình ở thế kỉ 21, bị bủa vây dưới áp lực khủng hoảng kinh tế và các lề thói đạo đức hà khắc.
(NLĐO) - Dự thảo Luật An ninh mạng làm dậy sóng mấy ngày nay vì có thể dẫn đến nguy cơ các nhà cung cấp ứng dụng Facebook, Google, Viber, Skype... rời bỏ Việt Nam.
Tranh cãi nằm ở Khoản 4, Điều 34 Dự thảo Luật An ninh mạng: "Các doanh nghiệp nước ngoài khi cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet tại Việt Nam phải tuân thủ pháp luật, tôn trọng chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia Việt Nam, có giấy phép hoạt động, đặt cơ quan đại diện, máy chủ quản lý dữ liệu người sử dụng Việt Nam trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam...".
Phản biện dự thảo này, VCCI cảnh báo quy định buộc các doanh nghiệp nước ngoài phải đặt máy chủ tại Việt Nam là trái với các cam kết quốc tế mà chúng ta đã tham gia và ký, như WTO, EVFTA, TPP (đàm phán xong). Trong khi đó, lý do cơ quan soạn thảo đưa ra là "đặc thù Việt Nam", "bảo đảm an ninh mạng và an toàn thông tin", cũng như phòng thủ trước các cuộc tấn công mạng...
Đây rõ là biểu hiện của nỗi sợ quản không được thì cấm. Điều gì sẽ xảy ra nếu những ông lớn công nghệ nói trên rời bỏ Việt Nam?

Hội nhập quốc tế càng sâu rộng, chúng ta càng phải tuân thủ luật chơi chung. Đừng đem cái "đặc thù Việt Nam" ra để nói chuyện với bạn bè quốc tế nếu chúng ta bẻ gãy luật chơi. Đó không chỉ là uy tín quốc gia mà còn là quyền lợi của hơn 95 triệu dân trong nước.
Thấy cũng lạ, mỗi khi đưa ra các quy định gây phản ứng, cơ quan hữu trách thường bảo để "cho phù hợp thông lệ quốc tế", còn cái này thì làm ngược lại. "Quốc tế" thì chỉ có một, đâu có nhiều "quốc tế" mà nói khác nhau?
Thống kê của We Are Social đến đầu năm 2017 cho thấy đã có gần 40 triệu người Việt Nam sử dụng Internet, trong số này 51% dùng Facebook và YouTube của Google cũng thu hút được tới 51% công dân "số" người Việt sử dụng. Và các số liệu này càng tăng. Điều đó chứng tỏ sự tiện dụng và hiện đại do các ứng dụng này mang lại. Nên nhớ, chúng ta sử dụng các ứng dụng do Facebook, Google, Viber... phát triển hầu như là "xài chùa", không tốn tiền nhưng độ ổn định và an toàn thì hơn hẳn nhiều dịch vụ trong nước.
Gần 10 năm trước, Việt Nam tung ra mạng xã hội go.vn với tuyên bố sẽ thay thế Facebook nhưng rồi go.vn biến mất tăm mất dạng; nhiều mạng xã hội do nội địa phát triển cũng lần lượt bái biệt không kèn không trống. Trong khi người Việt bây giờ, nếu thử hỏi 10 cư dân mạng, sẽ có ít nhất 9 người có sử dụng một trong các dịch vụ của Facebook, Google, Viber, Skype...
Còn nhớ, 20 năm trước, Việt Nam hoà mạng Internet với nhiều băn khoăn, trong đó có băn khoăn về quản lý. Nhưng rồi, như chúng ta đã thấy, cùng chính sách mở cửa, Internet đã giúp chúng ta phát triển như thế nào. Nhiều chuyên gia công nghệ nhận định quốc gia nào vắng mặt trên xa lộ thông tin toàn cầu, quốc gia đó sẽ quay về thời kỳ đồ đá. Câu nói của dân mạng Việt "nếu tôi chết, hãy chôn tôi ở nơi có Internet" cũng là vì vậy!
Thế thì xin hỏi các nhà soạn thảo dự luật, tại sao chúng ta đi ngược xu thế thế giới, đi ngược xu thế phát triển? Chúng ta giúp được gì tốt hơn cho dân trong khi các dịch vụ số trong nước còn èo uột? Chúng ta đã ký cam kết quốc tế, toàn những sân chơi lớn, mà sao lại đi bẻ cong quy định, vậy làm sao ăn nói với người ta?
Luật thì phải cấp tiến, bám sát thực tiễn cuộc sống và phù hợp thông lệ quốc tế, đừng để vừa ra đã sửa như một số luật đã từng mắc phải. Khó như vậy nên cử tri, người dân mới cần và tin tưởng vào những "công bộc" tài trí của mình.
"Tôi không dùng Facebook, Viber, Zalo, YouTube vì mấy thứ này rất đau đầu và mất thời gian. Tôi thường nói vui với bạn bè là dùng mấy thứ này suốt ngày cứ phải vào xem có ai chọc ngoáy, có ai chửi mình hay không, rất nhức đầu. Mỗi người comment một tí thành ra phiền toái" - Cục trưởng Cục An toàn thông tin Nguyễn Thanh Hải nói trong tọa đàm "Chia sẻ Nghiên cứu sáng kiến về Công nghệ thông tin cơ bản và an toàn Internet tại Việt Nam" hôm 3-11.
Thưa ông Cục trưởng, minh bạch và trong sạch thì chẳng việc gì phải sợ. Thủ tướng Hun Sen của nước bạn Campuchia còn buộc các thành viên chính phủ phải dùng mạng xã hội để trao đổi công việc đấy ông ạ!
Có phải sợ đau đầu, sợ bị chửi... là lý do? Nói thật, còn tư duy lỗi thời như vậy thì việc hô hào cách mạng 4.0 chỉ là sáo rỗng!
Dạ Lữ - NLD
Thứ Sáu, 3 tháng 11, 2017
‘Buồn ơi, chào mi’ – khúc tự tình của trái tim cô đơn
Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 không mô tả nỗi buồn mà chọn cách đối thoại với nó để nhìn về cuộc tình đổ vỡ một cách lạc quan hơn.
Trong sự nghiệp âm nhạc của Nguyễn Ánh 9, cây đàn Piano đóng vai trò chủ đạo. Nhạc sĩ thậm chí còn bày tỏ ý muốn được nhắc đến như một nghệ sĩ dương cầm hơn là người sáng tác. Vì vậy, giai điệu nhiều ca khúc nổi tiếng của ông phảng phất lối hòa âm dìu dặt của Piano. Buồn ơi, chào mi là một điển hình.
Ca khúc có sức ám ảnh với khán giả từ cái tên. Từ xưa đến nay, nỗi buồn vẫn là một đề tài khơi gợi nhiều cảm hứng nghệ thuật. Nhưng đối thoại trực tiếp với nỗi buồn thì Nguyễn Ánh 9 nằm trong số ít. Nỗi buồn trong âm nhạc của ông không khô cằn, đơn điệu mà sống động và đầy gợi mở. Tiếng chào của ông cũng mang nhiều ẩn ý. Đó có thể là lời chào khi gặp mặt, cũng có thể là lời tạm biệt lúc chia xa. Nhạc sĩ cất tiếng chào “người bạn” ấy nhẹ nhàng, có phần thân quen.
Ca khúc có sức ám ảnh với khán giả từ cái tên. Từ xưa đến nay, nỗi buồn vẫn là một đề tài khơi gợi nhiều cảm hứng nghệ thuật. Nhưng đối thoại trực tiếp với nỗi buồn thì Nguyễn Ánh 9 nằm trong số ít. Nỗi buồn trong âm nhạc của ông không khô cằn, đơn điệu mà sống động và đầy gợi mở. Tiếng chào của ông cũng mang nhiều ẩn ý. Đó có thể là lời chào khi gặp mặt, cũng có thể là lời tạm biệt lúc chia xa. Nhạc sĩ cất tiếng chào “người bạn” ấy nhẹ nhàng, có phần thân quen.
“…Buồn ơi, ta xin chào mi
Khi người yêu ta đã bỏ ta đi
Buồn ơi, ta xin chào mi
Khi tình yêu chấp cánh bay đi...”
Khi người yêu ta đã bỏ ta đi
Buồn ơi, ta xin chào mi
Khi tình yêu chấp cánh bay đi...”
Buồn ơi, chào mi mở đầu bằng đoạn Piano dìu dặt, khiến tâm trạng người nghe chùng chình giữa nhiều suy tư. Trên nền nhạc ấy, Nguyễn Ánh 9 giãi bày tâm trạng của mình khi “tình yêu chắp cánh bay đi” bằng lối tự sự độc đáo. Nhân vật trữ tình không hoài niệm quá khứ, không luyến tiếc người thương, cũng không ai oán số phận mà chỉ đơn giản đối thoại cùng nỗi buồn.
Tuy vậy, người nghe có thể nhận thấy đằng sau tâm trạng thư thái khi gọi tên nỗi buồn vẫn phảng phất nỗi đau.
“…Buồn ơi ta đang lẻ loi
Buồn hỡi ta đang đơn côi
Buồn ơi hãy đến với ta
Để quên chuyện tình xót xa…”
Buồn hỡi ta đang đơn côi
Buồn ơi hãy đến với ta
Để quên chuyện tình xót xa…”
Nỗi buồn giống như một tri kỷ, lắng nghe mọi tâm tư của người nghệ sĩ. Nguyễn Ánh 9 không cần để "người bạn" lên tiếng nhưng dáng hình của nó hiện lên một cách tình tứ và dịu dàng - đủ dịu dàng để dường như ai cũng muốn có một tri kỷ như vậy ở bên trong đời.
![]() |
Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 xúc động trong liveshow kỷ niệm 16-17/5/2015. Đây là lần cuối cùng người hâm mộ được nhìn thấy ông đứng trên sân khấu.
|
Buồn ơi, chào mi khắc họa một nỗi buồn rất lạ - tươi sáng và trong trẻo. Nguyễn Ánh 9 đón nhận nỗi buồn một cách thanh thản, đón nhận chia ly một cách nhẹ nhàng. Bài hát không có nước mắt, không có sự tuyệt vọng mà còn phảng phất niềm hy vọng.
Nguyễn Ánh 9 từng chia sẻ về ca khúc: “Tôi biết, rất nhiều người thích bài hát Buồn ơi, chào mi và nhiều khi không hiểu vì sao chính tôi cũng ngân lên: ‘Nếu trên đường tình ta lẻ loi một mình. Thì trên đường đời, ta có mi buồn ơi…’”. Với nhạc sĩ, nỗi buồn đã trở thành người bạn vong niên, đồng hành cùng ông trên những chặng đường đời. Buồn và “ta” là hai cá thể khác nhau nên “ta” không nên hòa mình vào nỗi buồn. Buồn đôi khi cũng giống như một gia vị trong cuộc sống. “Ta” buồn để biết trân trọng những tháng ngày hạnh phúc, để cảm nhận cuộc đời một cách trọn vẹn hơn.
Lúc sinh thời, nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 từng tâm sự: “Tôi vẫn thường tự nhủ với mình và nói với các con khi ta buồn, ta nên tìm cái vui trong cái buồn…”. Có lẽ vì thế khi nghe Buồn ơi, chào mi, nhiều người lại tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn.
![]() |
Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 và con trai – nhạc sĩ Nguyễn Quang.
|
Hôm 14/4, nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 trút hơi thở cuối cùng tại Bệnh viện Đại học Y Dược (TP HCM) sau thời dài chịu đựng căn bệnh viêm phổi, suy tim, hưởng thọ 76 tuổi. Ông không sở hữu khối lượng ca khúc đồ sộ như nhiều nhạc sĩ cùng thời nhưng các nhạc phẩm đều đi sâu vào lòng khán giả và có sức sống lâu bền.
Hà cho rằng với con gái, ngoại hình không phải là tất cả nhưng nó lại rất quan trọng. Vậy nên nếu làm đẹp để mình tự tin hơn thì các cô gái đừng chần chừ!
Nữ sinh ĐH Y khoa Vinh, Lương Thị Hà, cô gái từng bị gia đình người yêu từ chối vì có "đôi mắt lươn" lộ ảnh lột xác 180 độ xinh đẹp rạng ngời sau phẫu thuật thẩm mỹ, đang là chủ đề thu hút nhiều sự chú ý của dân mạng.
Nhìn Hà của hiện tại không ai nghĩ cô bạn từng có thời đau khổ vì đôi mắt lươn ti hí, làm người đối diện thiếu thiện cảm.
Hà (22 tuổi, quê Anh Sơn, Nghệ An) gần như đã "đập đi xây lại" toàn bộ gương mặt mình. Đôi mắt nhỏ ti hí của Hà, thường bị người khác đánh giá không trung thực, trở thành mắt hai mí và càng long lanh hơn khi được lên son phấn.
Sống mũi của cô bạn cũng được nâng cao vừa vặn, giúp tổng thể gương mặt trở nên thanh tú. Làn da lấm tấm nốt ruồi nhường chỗ cho nước da trắng trẻo, mịn màng. Màu sắc lông mày được cải thiện đáng kể giúp nữ sinh trường Y có một dung nhan mới sắc sảo, thu hút.
Những can thiệp như cắt mí, nâng mũi, độn cằm, phun mày, tẩy nốt ruồi được Hà tập trung làm trong 1 tháng. Đến nay, gương mặt cô bạn đã hoàn thiện 95%. Hà đã có thể trang điểmvà chụp ảnh như bình thường. Nhan sắc mới của nữ sinh nhận được nhiều lời khen ngợi.
Cuối tuần qua, Hà còn nhận được lời mời chụp ảnh Lookbook cho một studio tại Nghệ An. Cuộc sống của cô gái lớn lên cùng những bất công và những giọt nước mắt tủi hờn bỗng chốc đổi khác.
Khóc mãi rồi cũng đến lúc "bụt" xuất hiện
Khi nhớ về những chuyện đã qua, chúng ta sẽ có lúc mỉm cười vì những hồi ức xinh đẹp, cũng không tránh được những việc buồn bã, nhưng có vui có buồn mới là cuộc sống đúng nghĩa.
Hà thì khác. Cô gái chẳng muốn nhớ lại những ngày đã qua vì nó chỉ làm cô buồn bã kinh khủng. Hà vốn là người sống trọng nội tâm nhưng cái nhìn đầy định kiến và có phần khắt khe của người ngoài đối với "đôi mắt lươn" của Hà, khiến cô dần trở nên tự ti, mặc cảm về ngoại hình. Ngày qua ngày, Hà càng thu mình lại trong chiếc kén nhỏ.
Có ba lần Hà bị người khác làm tổn thương đến mức chỉ muốn gục ngã. Lần thứ nhất là vào năm cấp 3. Bố của bạn trai Hà đã nói với cô rằng: "Có phải cháu đang bỏ bùa mê cho con bác không? Nếu thật thì hãy dừng lại ngay, buông tha cho nó". Lần thứ hai là khi Hà đi làm thêm và bị mất việc vì: "Bác sĩ mà mắt lươn thì không ai dám tin tưởng". Và lần thứ ba là lúc Hà bị người thương từ chối phũ phàng, nhắc nhở cô hãy tự nhìn lại mình trước khi nói lời yêu.
Cả ba lần Hà bị người khác làm tổn thương đều xuất phát từ những khuyết điểm trên gương mặt như đôi mắt lươn, mũi tẹt, cằm lẹm, mồm hô và nhiều đồi mồi thiếu sắc.
Trong một lần chất chứa nhiều tâm sự, hoang mang lo lắng cho tương lai, Hà đã tìm đến confession của trường để giãi bày. Không ngờ, những ấm ức của nữ sinh lại được cộng đồng hết sức thấu hiểu, cảm thông và chia sẻ nhiệt tình.
Chỉ một thời gian ngắn sau, cô bạn sinh năm 1995 có cơ hội tham dự một cuộc thi dành cho những người có mong muốn thay đổi diện mạo và suất sắc giành giải Nhì.
"Phần thưởng của mình là cơ hội được phẫu thuật thẩm mỹ miễn phí. Khi đứng trước quyết định thay đổi diện mạo mình cũng có chút lo lắng. Tuy nhiên, mình không cảm thấy quá sợ vì đã thấy một số bạn làm mũi rồi. Bản thân mình cũng đang học bác sĩ đa khoa nên những kiến thức về phẫu thuật mình nắm rõ. Ước mơ của mình là trở thành một bác sĩ thẩm mỹ. Chuyện đi làm đẹp mình có kể cho bạn bè trong nhóm biết nhưng tuyệt đối không nói với bố mẹ vì sợ ở nhà sẽ lo lắng nhiều", Hà kể.
Hà bước lên bàn mổ với một ý niệm duy nhất: "Mình sẽ thay đổi cuộc sống này, không để ai chê bai hay nói xấu mình nữa".
Ngồi 5-6 tiếng trong phòng chờ phẫu thuật, cô em họ của Hà thấp thỏm lo âu. Cả hai chị em bí mật dắt nhau đi "đập mặt xây lại" mà bố mẹ ở quê chẳng hay biết gì.
Tỉnh dậy trong phòng phẫu thuật, cơn đau nhức chạy dọc cơ thể. Thật may vì Hà có sức khỏe tốt, cô bạn chỉ ngồi nghỉ một lúc là có thể về nhà được ngay. Những ngày mới phẫu thuật xong, Hà ở yên trong phòng trọ. Mọi sinh hoạt thường ngày đều được em họ hỗ trợ, chăm sóc. Các y tá của bệnh viện cũng đã giúp đỡ nữ sinh rất nhiều.
Gần 1 tháng sau ngày Hà bước lên bàn mổ, cô vẫn chưa về quê.
"Mẹ thì có hay tin mình phẫu thuật thẩm mỹ rồi, bố thì chưa. Những biệt danh xấu xí đã theo mình từ bé nên chắc chắn bố mẹ biết chuyện tình tự ti, buồn khổ đến thế nào. Chỉ có điều, bố mẹ không muốn nói đến", Hà tâm sự.
Sẽ không yêu lại người đã bỏ mình vì ngoại hình
Cuộc sống hiện tại của Hà như một giấc mơ. Cô bạn lập một album trên Facebook và đặt tên là "Nhật ký thay đổi diện mạo". Đó là nơi để Hà tập hợp những tấm ảnh và cảm xúc sau mỗi lần gương mặt có sự biến đổi nhờ phẫu thuật thẩm mỹ.
"Đây có lẽ là cuốn nhật ký đặc biệt nhất, nó đánh dấu sự thay đổi về chính ngoại hình của mình. Mình sẽ không chối bỏ quá khứ, cũng như không chối bỏ việc tìm đến phẫu thuật thẩm mỹ để xinh đẹp hơn. Mình sẽ mạnh dạn đối diện tất cả. Những ai bên cạnh ủng hộ mình, mình sẽ luôn yêu quý và trân trọng", Hà viết.
Những bức ảnh trong "Nhật ký thay đổi diện mạo" giúp người xem hình dung rõ hơn quá trình thay đổi của Hà sau phẫu thuật thẩm mỹ.
Khi hỏi Hà, nếu một ngày các chàng trai từng từ chối tình yêu của bạn đổi ý muốn bắt đầu một mối quan hệ, Hà sẽ đồng ý chứ?
Cô bạn suy nghĩ một lúc rồi đáp: "Nếu trước đây họ từ chối mình vì ngoại hình, bây giờ họ quay lại với mình chắc cũng chỉ vì ngoại hình. Như vậy, chắc chắn mình sẽ không chấp nhận".
Là một người vì áp lực của xã hội mà thay đổi ngoại hình nhưng lại không chấp nhận ai đó đến với mình vì ngoại hình. Mới nghe, ai cũng thấy quan điểm của Hà đầy mâu thuẫn. Nhưng khi ngẫm lại, nhiều người nhận ra Hà vẫn là chính cô ấy. Cô gái này nhờ dao kéo để cuộc sống thuận lợi hơn theo đúng cái "chuẩn" mà xã hội bắt mình phải đáp ứng. Nhưng khi yêu, Hà vẫn sẽ không muốn ai nhìn vào gương mặt mình để quyết định tình cảm dành cho cô, bởi điều đẹp nhất mà cô có, lại không nằm ở dung mạo mới kia.
"Mình muốn sống thật tốt để những người từng chế giễu mình nhận ra họ đã sai. Với con gái, ngoại hình không phải là tất cả nhưng nó lại rất quan trọng. Vậy nên nếu làm đẹp để mình tự tin hơn thì các bạn đừng chần chừ. Trong tương lai, mình hy vọng sẽ gặp được chàng trai yêu mình vì cái nết chứ đừng chết theo cái đẹp", Hà nói.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)












